Vietnamese Folk Verses
Vietnamese Folk Verses
A collection of Vietnamese ca dao & proverbs — with the meaning of each verse.
11945 verses · page 314/498
Anh lui về mà kiếm vợ con đi Em đây còn hải hà muôn dặm, can sự gì mà hỏi han?
Has meaning
Trông anh chẳng thấy anh ra Em ngồi đãi cát sương sa lạnh lùng Những mong hai bóng chung cùng Đâu hay sóng cuốn muôn trùng biển khơi
Has meaning
Nhớ khi xưa em nằm bãi cát Em bỏ mâm vàng hứng bát chuối xanh Bây giờ nên tiếng nên danh Chê ta quán nát lều tranh không ngồi
Has meaning
Trái lòn bon trong tròn ngoài héo Anh nhớ em ruột héo gan xàu Đó đây cách trở vì đâu Trách sao con tạocơ cầu đa đoan
Has meaning
Thanh Hà vẫn gạch bát nồi Thuốc thơm Cẩm Lệ mấy đời lừng danh
Has meaning
Xa em, thảm lắm em ơi Đường đi cỏ mọc, chỗ ngồi nhện giăng
Has meaning
Con cá lí ngư sầu tư biếng lội Em xa anh rồi anh trông đợi biếng ăn Mang bộ xương cách trí, anh leo lên tháp mười từng Trông vượt Bảy Núi, trông tuốt Nam Vang, trông quàng Châu Đốc, trông dọc Long Xuyên, trông lên Cao Lãnh, trông thẳng cánh cò bay lên Sài Gòn Ối thôi thôi em ơi, con mắt anh mòn Em mải mê xứ lạ, anh đâu còn thấy em!
Has meaning
Em về chẳng có chi đưa Trông trời hửng nắng đừng mưa trơn đường
Has meaning
Trăng tà tà như hoa phải lứa Duyên ba sinh hương lửa mơ màng Cho phần gần gũi tấc gan Gạ niềm thương nhớ để cho nàng tỏ hay
Has meaning
Đói no thiếp cũng lần hồi Thiếp nuôi con dại nối đời cho anh
Has meaning
Thương ai hồi nhỏ tới chừ Dẫu nghèo, dẫu đói không từ ngãi nhân
Has meaning
Gặp em hớn hở miệng cười Cũng bằng ăn chín uống mười lạng sâm
Has meaning
Cá khôn chẳng núp bóng dừa Gái khôn chẳng đến lê la nhà người
Has meaning
Trèo lên cái ngọn cây đề Ta thấy mình về, ta đứt ruột ra Đường cái phân bảy phân ba Cái áo xẻ tà, ta lại phân đôi Mình về, nhớ lắm mình ôi Nhớ chỗ mình đứng, nhớ nơi mình nằm Mình về ta vẫn hỏi thăm Hỏi chúng hỏi bạn, mình làm ăn nghề gì?
Has meaning
Khi chưa lấy được nàng đây Thì ta chiếu giải, màn quây cho ngồi Khi ta lấy được nàng rồi Tha đánh là tốt, còn đòi màn quây
Has meaning
Còn duyên kẻ đón người đưa Hết duyên đi sớm về trưa mặc lòng Còn duyên đóng cửa kén chồng Hết duyên như cải gãy ngồng bán rao Còn duyên bắc bậc làm cao Hết duyên rơi xuống ngã vào tay anh Còn duyên kén cá chọn canh Hết duyên phá giá theo anh ăn mày
Has meaning
Ra vườn thấy cánh hoa tươi Giơ tay toan ngắt, nghĩ thôi lại ngừng Hoa kia đương hớn hở tưng bừng E khi ngắt xuống, phỏng chừng được bao?
Has meaning
Trách cái miệng không vôi mà bạc Cõi phù du, đương nắng lại mưa Ví dầu sớm biết thuở xưa Nghìn vàng hồ dễ cũng chưa tới nhà
Has meaning
Yêu nhau con mắt liếc qua Chớ bấm chớ nháy, người ta chê cười
Has meaning
Quê anh ở phủ bên nhà Nhà anh phú quý vinh hoa nhất miền Bấy nay đi kén bạn hiền Bây giờ mới gặp thuyền quyên má hồng Hỡi cô tát nước gàu sòng Hỏi rằng cô đã có chồng hay chưa? Không chồng làm cuộc mây mưa Ruộng khô mạ héo bao giờ cho tươi Âm dương vẫn sẵn tính trời Cùng nhau ta tát gàu giai cho đầy
Has meaning
Quê nhà có ruộng có trâu Nhưng sông vắng cá nhưng trầu vắng vôi Đi tìm cho đũa thành đôi Cho than bén lửa cho người bén duyên
Has meaning
Tôi đây khách lạ xa đàng Tới đây hát đối biết nàng ở Dùi Chiêng Mai ngày tôi trở lại Bình Yên Thương mấy cô ở lại có chiêng mà không dùi Về nhà lòng những ngậm ngùi Nghĩ thương thân phận có dùi mà không chiêng Trăm lạy ông trời cho tôi trở lại chốn đào nguyên Để có ta, có bạn, có chiêng, có dùi.
Has meaning
Nước kênh Vĩnh Tế lờ đờ, Nhớ ông Bảo Hộ dựng cờ chiêu an
Has meaning
Ma Liên là Ma Liên tiên Đi chợ mang tiền có kẻ theo bưng Bán rồi bỏ nước xem chừng Tiền nổi thì chớ tiền chìm thì vâng
Has meaning