Vietnamese Folk Verses
Vietnamese Folk Verses
A collection of Vietnamese ca dao & proverbs — with the meaning of each verse.
11945 verses · page 434/498
Chim kêu chíp chíp trên mái nhà, Đây ta không muốn sao đó đà cứ xuống lên.
Has meaning
Chung quanh những chị em người, Giữa chùa Non Nước một tôi với chàng. Dù chàng mà có yêu đương, Thì chàng đắp điếm trăm đường để cho. Yêu chán, sợ chàng lại no, Rồi khi ngúng nguẩy biết nhờ cậy ai.
Has meaning
Em về thưa với mẹ cha Anh chẳng có lợn, có gà đi cheo Anh có cái cối giã bèo Anh xin bán để nộp cheo cho làng Bao giờ anh cưới được nàng Vợ chồng ta dựng tòa ngang dãy dài Toà này hương lí đánh bài Nhà trong thờ tổ, sân ngoài mổ trâu Một bên thì hát ả đầu Một bên hai họ têm trầu bổ cau Làng trên xóm dưới đồn nhau Đám cheo nhà ấy, đứng đầu tổng ta Nghĩ gần rồi lại nghĩ xa Mai ngày cheo nộp, hết chín vạn ba cái cối giã bèo.
Has meaning
Khi xưa nói nói, thề thề, Bây giờ bẻ khóa lộn chìa sao đang?
Has meaning
Một tấm thanh tre là nghĩa, Một chiếc chiếu là tình, Bấy lâu nay em thương bóng nhớ hình, Bây giờ em hỏi thiệt anh có thương mình hay không?
Has meaning
Con chim nho nhỏ, cái mỏ hắn vàng Hắn đứng trước cửa tam quan Hắn kêu hỏi bác lính khố vàng Chớ có ham nơi giàu sang sắc mắc Mà phụ phàng duyên nợ đôi ta
Has meaning
Khi xưa anh ở cùng ai, Bây giờ đặng chiếc thuyền hai, phụ đò. – Khi xưa anh ở cùng đò, Bây giờ đò lủng, anh mò thuyền nguyên!
Has meaning
Cô kia cấy lúa Nanh chồn Chổng mông cô để cái lồn cô lên
Has meaning
Lòng anh còn đợi còn chờ, Sao em dứt nghĩa bao giờ không hay.
Has meaning
Kẻ chồng còn đó trơ trơ, Cùng người khác đã đợi chờ tình chung. Kẻ thời mới khuất mặt chồng, Chưa xanh ngọn cỏ cải dong biến nghì.
Has meaning
Tay bưng chén quế, tay chế nước đường Vãng lai, lai vãng tình thương cạn rồi
Has meaning
Nhớ phiên chợ Bản anh đi Thiếu gì lợn ỉ, thiếu gì bò trâu
Has meaning
Con vợ tui tốt tợ tiên sa Coi trong thiên hạ ai mà dám beng Lưng khòm rồi lại da đen Còn hai con mắt tợ khoen trống chầu Giò cao đít lớn to đầu Lại thêm cái mặt cô sầu bắt ghê Việc làm trăm việc tui chê Chỉ thương có chút cái bạch huê nó tròn
Has meaning
Đàn bà thì phải nuôi heo Thời vận đương nghèo nuôi chẳng đặng trâu
Has meaning
Em đưa anh về tới chợ La Hai Thò tay kết tóc điểu với mai trọn niềm Chừng nào đá nổi lông chìm Trăm năm đi nữa cũng tìm duyên anh
Has meaning
Đôi ta như đũa trong so Không chọn mà gặp, không đo mà đều Đôi ta đã quyết thì liều Tỉ như con trẻ thả diều đứt dây
Has meaning
Anh say chi say hủy say hoài Đã say quá chén còn nài uống thêm Say sưa đôi mắt lim dim Đường đi trơn trợt còn tìm thấy ai
Has meaning
Gió đưa kẽo kẹt cành tre, Mẹ ngồi tựa cửa bên hè quay tơ
Has meaning
Xa chi xa oan, xa ức, xa tức, xa tối Xa không sợ tội với ông trời Chẳng thà không biết thì thôi Biết ra mỗi đứa một nơi thêm buồn
Has meaning
Suối Tiên nước chảy lững lờ Tiên đi đâu, để bàn cờ rêu phong Nước mây vắng vẻ tăm mòng Bền gan ta vẫn rày mong mai chờ
Has meaning
Nghĩ ra Văn Điển cũng sành Giò, nem, ninh, mọc, đủ ngành nàng ơi
Has meaning
Thuở hồi anh nhỏ thầy anh có bảo rằng: Cứ chuyên tập nghiệp hằng Phải siêng năng đọc sách Câu: Võ vô thiết tỏa năng lưu khách, Sắc bất ba đào dị nịch nhân Xét xa rồi lại xét gần Thấy em ai khiến mười phần nên thương.
Has meaning
Chơi xuân kẻo hết xuân đi Nái sề xồng xộc nó thì theo sau
Has meaning
Muốn ăn cơm trắng chả giò, Thì về Bến Cốc đẩy xe bò với anh
Has meaning