Vietnamese Folk Verses
Vietnamese Folk Verses
A collection of Vietnamese ca dao & proverbs — with the meaning of each verse.
11945 verses · page 125/498
Chẳng thương thì nói thuở đầu Làm chi lăn lóc nửa chầu lại thôi
Has meaning
Chàng đừng chê thiếp vụng về Có tiền thiếp cũng biết thuê mượn người
Has meaning
Viết thư sang hỏi thăm chàng Còn không hay đã đá vàng nơi nao? Hay là mắc phải con nào Bùa yêu bả lú phải làm sao cho tỏ tường Vắng chàng tôi những nhớ thương Vì chàng mê gái tìm đường phụ tôi Tôi làm cho lứa quên đôi Tôi làm cho rã cho rời nhau ra Làm cho tan nát biệt xa Cho chim lìa tổ, cho hoa lìa cành Tôi làm cho nó lìa anh Cho người ta biết anh tình phụ tôi
Has meaning
Chàng ràng như cá quanh nơm Nhiều con anh rạng không biết đơm con nào
Has meaning
Thân em vừa đẹp vừa giòn Thân đi làm mọn, cúi lòn khổ thay Thân gái bến nước mười hai Gặp nơi trong đục may ai nấy nhờ
Has meaning
Chẳng thương chẳng nhớ thì thôi Cũng được lời nói cho nguôi tấm lòng
Has meaning
Chàng đi trâu để em chăn Để nón em đội để khăn em cầm
Has meaning
Ru hời ru hỡi là ru Bên cạn thì chống bên sâu thì chèo Hai tay em vừa chống vừa chèo Không ai tát nước đỡ nghèo một phen
Has meaning
Coi chừng thương được thì thương Đừng đem em bỏ giữa đường nỏ nên
Has meaning
Xe ngựa lướt bụi tuôn bờ Bánh niềng sắt cứ khua rột rột Tui ra chợ mua đường thốt nốt Tui mua cân bột cùng gói đậu xanh Tui về nấu chè trôi nước đặt lại tên anh Để cho trong trào ngoài quận Biết tiếng thằng Sở Khanh điếm đàng
Has meaning
Chàng đi thiếp đứng trông chừng Trông sông lai láng trông rừng rừng xanh
Has meaning
– Chàng đi mô khuya khoắt đến giờ Hay là câu cá thả lờ chi mô – Không không có có mô mồ Răng em đổ tiếng giang hồ cho anh
Has meaning
Đi đâu có anh có tôi Người ta mới biết là đôi vợ chồng
Has meaning
Một đêm là năm trống canh Tôi kể ngọn ngành cho chúng bạn nghe: Canh một thì đi cất te Canh hai trở về nấu cám lợn ăn Canh ba đổ gạo vô đâm Canh tư nhấm trấu bắc hầm nồi ngô Canh năm chợp mắt lơ mơ Chồng vừa vào rờ, gà gáy rạng đông Năm canh nỏ bén hơi chồng Vì con mụ cả, khổ không hỡi trời! Cái cảnh chồng chung cực lắm chị em ơi!
Has meaning
Ngó lên trời không cao không thấp Ngó xuống biển không cạn không sâu Tôi dạo chơi mười tám nước chư hầu Không nghe ai than thở thảm sầu hơn anh
Has meaning
Đã thành gia thất thì thôi Đèo bòng chi lắm tội trời ai mang
Has meaning
Cho dù không vẹn chữ tòng Ai nuôi con cho mự, để mự lấy chồng mự ơi!
Has meaning
Một chữ kính mẹ, một chữ thờ cha Dẫu mà trăng xế, bóng anh qua cũng đành
Has meaning
Thân em như cái nón cời Như cái áo rách vá thời chưa may Chẳng lo gì áo rách tay Trời kia ngó lại vá may lại thường Áo rách có cách anh thương Nón cời có nghĩa anh thương nón cời
Has meaning
Anh hùng đoái đến thuyền quyên Trăm năm biết có nên duyên vợ chồng
Has meaning
Lạy trời, lạy Phật cho tóc mau dài Bao giờ tóc chấm ngang vai Thì ta kết nghĩa thành hai vợ chồng
Has meaning
Đường còn đi xuống đi lên Tình qua nghĩa bậu quyết nên vợ chồng
Has meaning
Nực cười cơm cháy quạ tha Anh cầm duyên em lại, cho già rụng răng
Has meaning
Ngọc nhìn lâu sẽ tìm thấy vết Hoa để gần sẽ hết mùi hương Xa nhau mong ước mơ màng Gần nhau rồi sẽ phụ phàng biết đâu
Has meaning