Vietnamese Folk Verses
Vietnamese Folk Verses
A collection of Vietnamese ca dao & proverbs — with the meaning of each verse.
11945 verses · page 108/498
Từ ngày gặp gỡ giữa đường Những lời bạn nói nhớ thương vô chừng Tưởng là thành cơm thành cháo, tôi bỏ bụng mừng Hay đâu cá bể chim rừng vội bay
Has meaning
Năm thức rau nấu năm nồi Tôi đơm năm bát đợi người đằng xa Năm trống canh tôi ngủ có ba Còn hai canh nữa tôi ra trông trời Trách ông trời sớm dựng đông Chả khuya chút nữa cho lòng thở than Thở than chưa kịp hết lời Bỗng đâu trống giục ba hồi tan canh
Has meaning
Tay cầm cái bánh ít ngọt Tay cầm chén rượu bọt Miệng kêu bớ ông mai ơi! Đèn treo trước gió, bấc cháy sáng ngời Ưng hay không tự bụng trời nào ép duyên
Has meaning
Giàu thì cơm cháo bổ lao Khó thì hút điếu thuốc lào cầm hơi
Has meaning
Tay anh cầm chai rượu buồng cau Đi ngả đàng sau, thầy mẹ chê khó Đi đàng cửa ngõ, chú bác chê nghèo Nhằm chừng duyên nợ cheo leọ Sóng to thuyền nặng không biết chống chèo có qua không
Has meaning
Bên này sông có trồng bụi sả, Bên kia sông ông xã trồng một bụi tre. Trách ai làm bụi tre nó ngã, bụi sả nó sầu, Phải chi ngoài biển có cầu, Cho anh ra đó giải đoạn sầu cho em.
Has meaning
Đêm nằm tôi nghĩ tôi rầu Làm dâu thật khổ từ đầu chí đuôi Ra thân tối mặt vùi đầu Các chị sung sướng riêng dâu mẹ hành Chê tôi khờ dại không lanh Mẹ đào mẹ chửi mẹ hành xót xa Công trình mẹ cha tôi đẻ tôi ra Gả cho con mẹ còn bù của thêm Phải thời chồng vợ trọn niềm Sui gia đi lại ấm êm ở đời Không nên mỗi đứa mỗi nơi Tôi ra khỏi cửa để mẹ kiếm nơi sang giàu Ở chi đây, mẹ mắng trước chửi sau Ngày nào mẹ cũng cứ nghèo giàu mẹ đay
Has meaning
Thương anh ăn nói thiệt thà Theo anh may rủi gọi là hên xui
Has meaning
Anh ơi duyên phận lỡ làng, Xin anh để tiếng phi thường cho em. Ước gì kẻ lạ người quen, Gần xa nhắc đến chồng em anh hùng. Thu đông lệ nhỏ đôi dòng, Anh đi em ngỏ tấm lòng cùng anh.
Has meaning
Tham vàng phụ nghĩa ai ơi Vàng rồi tiêu hết, nghĩa đời còn nguyên
Has meaning
Ru hời, ru hỡi là ru Con cá lù đù đánh vảy, chặt vi
Has meaning
Chém tre đan nón ba tầm Để cho chị đội qua rằm tháng giêng Tình nhân ghé nón đi qua Đôi hàng nước mắt nhỏ ra ròng ròng Thà rằng chẳng biết cho xong.
Has meaning
Ai về tôi gửi đôi giày Phòng khi mưa gió để thầy mẹ đi
Has meaning
Ai ra Cẩm Phả mà xem, Rừng xanh ngăn ngắt, đất đen sì sì. Đã là cái kiếp cu li Có gì là đẹp, có gì là vui.
Has meaning
Đêm qua dồn dập mưa mau Gió rung cành ngọc cho đau lá vàng Trách chàng phụ ngãi tham vàng Ngô đồng nỡ để phượng hoàng ngẩn ngơ Biết nhau từ bấy đến giờ Đã có bướm đậu thì chừa sâu ra
Has meaning
Đôi cô vác gậy chòi đào, Cô lớn cô bé cô nào lấy ai. Cô lớn vuốt bụng thở dài, Trời ơi đất hỡi lấy ai đỡ buồn. Cô bé mặc áo hở lườn, Đêm nằm ngỏ cửa con lươn bò vào. Gió nam đánh tốc yếm đào Anh nghĩ oản trắng mơ vào thắp nhang. Hai cô bốn oản rõ ràng, Anh xin một chiếc cô nàng không cho.
Has meaning
Thương em thì tới thăm em Anh đừng thơ gởi, thơ đem lậu tình
Has meaning
Thân em như bông cúc trên trang Thân anh như manh chiếu rách bạn hàng bỏ quên
Has meaning
Thanh xuân bất tái Phận em là gái Sớm lo nhân ngãi cho rồi Sợ em quá lứa uổng đời hồng nhan – Dầu cho quá lứa Em đây cũng chẳng hứa càn Phải duyên, em trao nghĩa gửi vàng Không duyên không nợ, em đành để hoa tàn nhụy phai
Has meaning
Thân anh lỡ dại hai lần Nhỏ mân vú mẹ, lớn mằn vú em
Has meaning
Ruộng sâu, bàu hẹp Con tép lội, cội tùng rung Dĩa nghiên mài mực, tạm dùng tả thơ
Has meaning
Tháng năm, tháng sáu, mặt trời đi chệch Tháng bảy, tháng tám, mặt trời đi xiên Em là phận gái thuyền quyên Đừng cho sóng dợn, đò nghiêng nước vào Đò nghiêng sóng dợn ba đào Trong dễ thấy đục, đục nào thấy trong
Has meaning
Thân em như áo mới may Như cau bửa miếng bỏ trên khay trầu Trăm năm không bỏ ngãi chàng đâu Vì bà Nguyệt Lão đã bắc cầu lương duyên
Has meaning
Thân em như con cá trong bồn Không ăn có chịu, tiếng đồn oan chưa!
Has meaning