Vietnamese Folk Verses
Vietnamese Folk Verses
A collection of Vietnamese ca dao & proverbs — with the meaning of each verse.
11945 verses · page 161/498
Nghèo thì áo rách phải mang Nước sông gạo chợ, thiếp chàng nuôi nhau
Has meaning
Đầu đường có một dây leo Trông cậy sậy nhỏ, ra điều mỉa mai Rằng: “Sao bé thấp lạ đời, Trông em, anh cũng nực cười lắm thay” Nghe lời, sậy mới đáp ngay, Rằng: “Mày không nghĩ phận mày xem sao, Nhờ ai mày mới được cao? Những như thân ấy, còn bao giờ mà? Ta đây dù thấp là đà, Tự ta ta mọc, chẳng nhờ cậy ai”
Has meaning
Trách ai đem vải trải rương Để cho em chịu tư lương một mình
Has meaning
Nghĩ buồn cho ai, nhành mai đang thắm Chẳng xứng tay cầm, uổng nhánh mai tươi
Has meaning
Chồng lanh cưới vợ khù khờ, Đến khi có khách, đít giường thờ nó chun
Has meaning
Ngó lên đám bắp trổ cờ Cau buồng đã lớn, anh chờ duyên em.
Has meaning
Ngó lên chót vót cây dầu Thấy đôi diệc đậu, em sầu phận em
Has meaning
Bến chợ Đông Ba tiếng gà gáy sáng Bến đò Thọ Lộc tiếng trống sang canh Giữa sông Hương dợn sóng khuynh thành Đêm khuya một chiếc thuyền mành ngả nghiêng
Has meaning
Anh để em lắm nỗi tư lương Đem em nằm dật dựa ngậm sương kêu trời
Has meaning
Đi chợ phải thói ăn hàng, Mua ba đồng mắm, chợ tan mới về
Has meaning
Cô dâu hư đã quá chừng, Thưa thớt trăm chuyện, áo quần chẳng nên.
Has meaning
Dẫu như thân liễu yếu xìu Dẫu cho bão tố không xiêu tấc lòng
Has meaning
Cái gì mà thấp, cái gì mà cao? Cái gì sáng tỏ hơn sao trên trời? Cái gì em trải anh ngồi? Cái gì thơ thẩn ra chơi vườn đào? Cái gì mà sắc hơn dao? Cái gì phơn phớt lòng đào thì em bảo anh? Cái gì trong trắng ngoài xanh? Cái gì soi tỏ mặt anh, mặt nàng? Cái gì xanh, đỏ, trắng, vàng? Cái gì ăn phải dạ càng tương tư? Cái gì năm đợi tháng chờ? Cái gì em đội phất phơ trên đầu? Cái gì sắc hơn dao cau? Cái gì tiện chũm cho nhau ăn cùng? Một quan là mấy trăm đồng? Một mối tơ hồng là mấy trăm dây? Một cây là mấy trăm cành? Một cành là mấy trăm hoa? Em ngồi em giảng cho ra, Thì anh kết nghĩa giao hòa cùng em – Đất thì thấp, trời thì cao Ngọn đèn sáng tỏ hơn sao trên trời Chiếu hoa em trải anh ngồi Khi buồn thơ thẩn ra chơi vườn đào Con mắt em sắc hơn dao Trứng gà phơn phớt lòng đào hỡi anh Cau non trong trắng ngoài xanh Gương tàu soi tỏ mặt anh, mặt nàng Chỉ ngũ sắc xanh, đỏ, trắng, tím, vàng Bùa yêu ăn phải dạ càng tương tư Đôi ta năm đợi, tháng chờ Cái khăn em đội phất phơ trên đầu Con mắt anh liếc sắc hơn dao cau Cau non tiện chũm cho nhau ăn cùng Một quan là sáu trăm đồng Một mối tơ hồng là sáu trăm dây Một cây là sáu trăm cành Một cành là sáu trăm hoa Thưa anh em đã giải ra Mong anh kết nghĩa giao hòa cùng em!
Has meaning
Ngó lên lầu lầu cao vách ván Lòng em dám thương anh lắm anh ơi Anh về ở dưới anh đừng mê cây đờn kêu, ống sáo thổi anh xiêu lòng bỏ em
Has meaning
Em là con gái nhà quê, Ăn trưa, ngủ sớm ngồi lê nẫu cười
Has meaning
Con gái nhà ai hay ho, Ngủ nướng thẳng giấc, dậy ra đo mặt trời
Has meaning
Ngó lên đám bắp thoai thoai, Quà quạ ních hết để chị hai gặm cùi
Has meaning
Ta đương mê ngủ mơ màng Tai nghe cha mắng hò khoan sự gì? Giờ còn ngủ nướng li bì, Mặt trời đã mọc chưa đi ra cày.
Has meaning
Bầu non ong đút nó eo Tuổi tui còn nhỏ, mỡ mèo gì đâu!
Has meaning
Vì chàng thiếp phải long đong Những như thân thiếp đã xong một bề Vì chàng thiếp phải ủ ê Thiếp ở chàng về chàng tính làm sao?
Has meaning
Qua không ham rộng ruộng lớn vườn Ham vì nhân ngãi cang thường mà thôi
Has meaning
– Tiếng anh ăn học làu thông, Hỏi anh có biết khăn lông mấy đường? – Em về đếm hết cỏ vườn, Lại đây anh nói mấy đường khăn lông
Has meaning
Nhác trông con mắt đáng trăm Miệng cười đáng chục, hàm răng đáng nghìn Nhác trông con mắt ưa nhìn Đáng trăm cũng chuộng, đáng nghìn cũng mua
Has meaning
Súng nẫu hay nẫu bắn lia lia Còn tui súng dở bắn lìa cội cây
Has meaning