Vietnamese Folk Verses
Vietnamese Folk Verses
A collection of Vietnamese ca dao & proverbs — with the meaning of each verse.
11945 verses · page 145/498
Vợ lẽ như giẻ chùi chân Chùi rồi lại vứt ra sân Gọi ông hàng xóm đem chân đến chùi
Has meaning
Ai qua núi Tản sông Đà Ghé qua Tu Vũ mặn mà tình thương
Has meaning
Em nay buôn chỉ bán tơ Buôn ngọn sông Bờ, bán ngọn sông Thao Nước sông Thao biết bao giờ cạn? Núi Ba Vì biết vạn nào cây!
Has meaning
Trời xanh đất đỏ mây vàng Anh đi thơ thẩn gặp nàng thẩn thơ Bấy lâu loan đợi phượng chờ Loan sầu phượng ủ biết cơ hội nào Mong chờ rồng cá kết giao Thề nguyền đông liễu tây đào phòng chung Bây giờ kể đã mấy đông Thuyền quyên sầu một, anh hùng sầu hai Còn non còn nước còn dài Còn về còn nhớ tới người hôm nay Tìm rồng mà lại gặp mây Sầu riêng năm ngoái năm nay hãy còn Biết nhau ba bảy năm tròn Như sông một dải ai còn dám hay Lại đây em hỏi câu này: Phượng hoàng đứng đấy, nào cây ngô đồng? Thuyền quyên sớm biết anh hùng Liễu tây vắng vẻ đào đông đợi chờ Ra vào mấy lúc ngẩn ngơ Nghĩ gần sao lại bây giờ nên xa Mong cho bướm ở gần hoa Muốn cho sum họp một nhà trúc mai
Has meaning
Sông Thao nước đục người đen Ai lên phố Ẻn cũng quên đường về
Has meaning
Tháng tám trời thổi gió nồm Tháng ba đông bắc có làm không ăn
Has meaning
Mồng tám tháng tư không mưa Bỏ cả cày bừa mà lấp lúa đi Mồng tám tháng tư có mưa Mẹ con sắm sửa cày bừa làm ăn
Has meaning
Bao giờ Mang hiện đến ngày Cày bừa cho chín, mạ này đem gieo
Has meaning
Nón này em sắm ở đâu Dọc ngang mấy thước, móc khâu mấy lần Em mà đáp được như thần Thì anh trả nón đưa chân anh về – Nón này em sắm chợ Giầu Dọc ngang thước rưỡi, móc khâu năm đường Nón này chính ở làng Chuông Làng Giàlợp nón, Khương Thường bán khua Hà Nội thì tết quai tua Có hai con bướm đậu vừa xung quanh Tứ bề nghiêng nón chạy quanh Ở giữa con bướm là hình ông trăng Nón này em sắm tiền trăm Ai trông cái nón ba tầm cũng ưa Nón này che nắng che mưa Nón này để đội cho vừa đôi ta Nón này khâu những móc già Em đi thử nón đã ba năm chầy Muốn em chung mẹ chung thầy Thì anh đưa cái nón này em xin.
Has meaning
Đói thì ăn ráy ăn khoai Chớ thấy lúa trổ tháng hai mà mừng
Has meaning
Tiếc cây nứa tốt có sâu Tiếc người lịch sự trên đầu có tang Tang chồng thì bỏ tang đi Tang cha tang mẹ ta thì tang chung – Tang cha tang mẹ trên đầu Lẽ nào em dám bán sầu mua vui
Has meaning
Chợ Giầu một tháng sáu phiên Ai ơi nên nhớ chớ quên chợ Giầu
Has meaning
Con mắt em liếc cũng ngoan Cái chân em bước tựa đàn năm cung Đàn năm cung say cung say điệu Ta với mình dan díu từ đây
Has meaning
Ai lên quán dốc chợ Giầu Để thương, để nhớ để sầu cho khách đường xa
Has meaning
Chiều chiều trước bến Văn Lâu, Ai ngồi, ai câu, ai sầu, ai thảm Ai thương, ai cảm, ai nhớ, ai trông Thuyền ai thấp thoáng bên sông, Nghe câu mái đẩy, chạnh lòng nước non
Has meaning
Đu tiên mới dựng năm nay Cô nào hay hát kỳ này hát lên Tháng ba nô nức hội đền Nhớ ngày giỗ Tổ bốn nghìn năm nay Dạo xem phong cảnh trời mây Lô, Ðà, Tam Ðảo cũng quay đầu về Khắp nơi con cháu ba kỳ Kẻ đi cầu phúc, người đi cầu tài Sở cầu như ý ai ơi Xin rằng nhớ lấy mồng mười tháng ba
Has meaning
Đục cùn thì giữ lấy tông Đục long cán gãy còn mong nỗi gì
Has meaning
Kẻ Dầu có quán Đình Thành Kẻ Hạc ta có ba đình, ba voi Mười tám cất thuyền xuống bơi Mười chín giã bánh, hai mươi rước thần
Has meaning
Mồng bảy hội Khám, mồng tám hội Dâu Mồng chín đâu đâu trở về hội Gióng
Has meaning
Nhất giang lưỡng quốc nan phân thuyết Tứ nguyệt tam vương triệu bất tường
Has meaning
Quê ta đồng trắng, nước trong Lúa gạo thì ít, rêu rong thì nhiều Dặn con phải nhớ lấy điều Muốn cho no ấm phải sớm chiều siêng năng
Has meaning
Có trầu mà chẳng có vôi Có anh mà chẳng có tôi cũng buồn Đấy đây xin tạc chữ đồng Để cho mai cúc chung bồn tốt xanh
Has meaning
Bao giờ rừng báng hết cây Tào Khê hết nước, Lý nay lại về
Has meaning
Chợ Giầu bán sáo bán sành Bắc Ninh bán những nhẫn vàng trao tay Đình Bảng bán ấm bán khay Phù Lưu họp chợ mỗi ngày một đông
Has meaning