Vietnamese Folk Verses
Vietnamese Folk Verses
A collection of Vietnamese ca dao & proverbs — with the meaning of each verse.
11945 verses · page 144/498
Thương anh mấy núi cũng trèo Mấy sông cũng lội, mấy đèo cũng qua Thương anh không quản chi xa Đá vàng cũng quyết, phong ba cũng liều
Has meaning
Tháng mười coi cái sao Tua Khi nằm, khi dậy làm mùa mới nên
Has meaning
Sông Lam một ngọn nông sờ Nhớ người quân tử bơ vơ nổi chìm
Has meaning
Thương em chẳng dám tới nhà Đi qua đi lại hỏi gà bán chơi Thấy em như thấy mặt trời Thấy thời thấy vậy, trao lời khó trao
Has meaning
Tay cầm con dao Làm sao cho sắc Để mà dễ cắt Để mà dễ chặt Chặt lấy củi cành Chạy lên rừng xanh Chạy quanh sườn núi Một mình thui thủi Chặt cây, chặt củi Tìm chốn ta ngồi Đỗi mát thảnh thơi Kìa một đàn chim Ở đâu bay đến Ở đâu bay lại Con đang cắn trái Con đang tha mồi Qua lối nọ nó ăn Cái con hươu kia Mày đang ăn lộc Lộc vả, lộc sung Mày trông thấy tớ Mày đừng có sợ Tớ không đuổi mày Mày quay đi mất
Has meaning
Việt Nam độc lập thế nào? Phải chăng thằng Nhật thay vào thằng Tây? Việt Nam độc lập thế này Còn quân lùn ở có ngày diệt vong
Has meaning
Đêm âm u trăng sao không tỏ Ấy là điềm mưa gió tới nơi Đêm nào sao sáng rực trời Ấy là nắng ráo yên vui suốt ngày Những ai chăm lo cấy cày Điềm trời coi đó, liệu xoay việc làm
Has meaning
Nhớ ai nhớ mãi nhớ hoài Nhớ người tráng sĩ gươm mài dưới trăng
Has meaning
Tre già làm cọc bờ rào Tre non làm lạt buộc vào cọc tre Tre già thấy sự khó nghe Mắng rằng: Mày định trói què tao ư? Con nhà vô phúc thế ru! Đẻ ra cho lắm, con hư cũng sầu. Tre non nghe nói cúi đầu Sụt sùi kể lại mấy câu sau này: Thưa cha sự trói cha đây Thực tình chẳng phải tự tay con nào Chẳng qua người cậy có dao Chẻ con làm lạt buộc vào cổ cha Người làm ta lại buộc ta Để ta gìn giữ cửa nhà họ yên.
Has meaning
Khen ai khéo tiện ngù cờ Khéo xây bàn án, khéo thờ tổ tiên – Tổ tiên để lại em thờ Anh ra ngoài ải, cầm cờ theo vua
Has meaning
Đẹp nhất con gái làng Tranh Chua ngoa làng Nhót, ba vành Kẻ Om
Has meaning
Thương anh không dễ nói ra Nhớ anh không lẽ đến nhà mà kêu Đến nhà thì sợ mang điều Đứng ngoài cửa ngõ mà kêu, phiền lòng
Has meaning
Vườn ai trồng trúc trồng tre Ở giữa trồng chè, hai bên đào ao Ấy nhà một đấng anh hào Họ Phan, làng Thái, đồng bào kính yêu
Has meaning
Thương ai ra ngóng vào trông Thương ai ra đứng bờ sông đợi chờ Thương ai đi ngẩn về ngơ Đêm mất giấc ngủ, ngày ngơ ngẩn sầu Thương ai ra đứng đầu cầu Lược sưa biếng chải, gương tàu biếng soi Chiếu hoa bỏ vắng không ngồi Phòng loan bỏ vắng mặc người quay tơ Muốn cho đó đợi đây chờ Đừng như hoa lý hững hờ, ai ơi
Has meaning
Kệ Sơn, Phượng Lĩnh đôi hàng Đi về mấy độ, ngang tàng vào ra Ngàn Hồng hỏi khách đi qua Nào ai là kẻ xông pha đứng đầu?
Has meaning
Có thương cắt tóc mà thề Chỉ trời vạch đất chớ hề bỏ nhau
Has meaning
Có đôi chưa nói lại tôi tường Để tôi vô phá điệu cang thường không nên Hồi nào nhắn xuống nhắn lên Bây giờ tôi đứng một bên không nhìn Ngó lên tầm kiếng hai hình Khen ai khéo họa hai đứa mình đứng chung
Has meaning
Cầm hơi miếng bánh đúc vôi Rét run lấy mảnh bao gai che mình Hôm nay còn sống đi khênh Ngày mai sợ đến lượt mình ai chôn
Has meaning
Cậu chết mợ ra người dưng Bánh giầy phải lửa thời sưng phồng phồng
Has meaning
Nhất cao là núi Tản Viên Nhất sâu là vũng Thủy Tiên cửa Vường
Has meaning
Tính về trình với mẹ cha Phận tính là gái như hoa giữa đường Tình trông thấy tính cũng thương Tình về thu xếp quê hương cửa nhà Tình về trình với mẹ cha Rằng tình gặp khách đường xa quê người Hồng nhan tình chín, tính mười Muốn cho tình tính kết đôi giao hòa …
Has meaning
Có trông đứng lại mà trông Những lời em nói như lồng vào tai
Has meaning
Chiều trông về núi Tô Châu Thấy em gánh nước trên đầu giắt trâm Trâm đồi mồi tóc em em giắt Mắt anh nhìn thương thiệt là thương Dãi dầu một nắng hai sương Tóc em vẫn mượt mùi hương vẫn còn
Has meaning
Chém tre mẻ rựa chàng ơi Thiếp phải lòng mặc, chớ cười thiếp chi Thế gian ai cũng một thì Chàng về lấy vợ thiếp thì cô đơn Vui xuân vui cả đôi đường Sầu xuân riêng thiếp canh trường tương tư
Has meaning