Vietnamese Folk Verses
Vietnamese Folk Verses
A collection of Vietnamese ca dao & proverbs — with the meaning of each verse.
11945 verses · page 114/498
Dám khuyên khách ở trên đời Ước cho no đủ mọi mùi ăn chơi Ước gì gặp tiên trên trời Như chàng Lưu Nguyễn lên chơi động đào Ước gì làm được quan cao Giã ghe ngựa cưỡi võng đào nghênh ngang Ước gì lắm bạc nhiều vàng Như chàng Vương Khải thế gian ai tài Ước gì gặp hội rồng mây Đăng khoa chiếm bảng ngày rày vinh hoa Ước gì trăm tám tuổi già Sống như Bành Tổ mới là sống lâu Ước gì lắm rể nhiều dâu Lắm con nhiều cháu bề sau thọ tràng Ước gì được cả trăm đàng Như lan như huệ cùng chung một đoàn Ước gì như quạt như gương Phan Trần sánh lại mà thương nhau cùng Ước cho có thủy có chung Ước cho no đủ chữ đồng mà thôi Thế là anh đã ước rồi Thì nàng ước lại cho tôi bằng lòng
Has meaning
Giếng làng em vừa trong vừa mát Đường làng em lắm cát dễ đi Em ơi trang điểm làm chi? Để cho anh phải sớm đi tối về
Has meaning
Im lặng mà chẳng nói năng Gật đầu mỉm miệng rằng anh yêu nàng Mượn người mai mối đưa sang Cầu trời khấn Phật cho chàng đẹp duyên
Has meaning
Yêu em, em cũng như vầy Ghét em, em cũng như ngày anh yêu
Has meaning
Mẹ anh mua trầu mua phải lá đa Mẹ anh mua gà mua phải cuốc con Đắng cay như ngậm quả bồ hòn Chát chua như ngậm quả sung non, nhậm mồm!
Has meaning
Im như Bụt mọc trên chùa Con vào chánh điện đừng đùa với sư Cúi lạy con phải từ từ Đừng có vội vã mà hư thân mình
Has meaning
Chợ nào chợ chẳng có quà Người nào chả biết một và bốn câu Ở đâu đất đỏ như nâu Sao cô không hát vài câu huê tình Hỏi cô cô cứ làm thinh Để ta hát mãi một mình sao đang – Giã ơn quân tử nghìn vàng Buông ra cho khách hồng nhan được nhờ Cớ gì mà nắm giữa đường Nợ chàng không nợ vay chàng không vay Em van chớ nắm cổ tay Buông ra em nói lời này thở than Xin chàng chớ vội nắm ngang Xa xôi cách mấy dặm đàng cũng nên Tơ hồng chỉ thắm là duyên Bao giờ em thuận thì nên bấy giờ
Has meaning
Chung thuyền mà chẳng chung duyên Càng như đốt ngọn lửa phiền Làm cho đây phải oan khiên khóc thầm
Has meaning
Chơi cho phỉ dạ ước mong Rồi sau em vợ anh chồng mới hay – Thôi thôi em chẳng ỡm ờ Khôn ba năm dại một giờ mà thôi Một mai nên lứa nên đôi Trăm năm ân ái vui chơi mặc lòng
Has meaning
Thương thay con hến, con sò Nắng mưa chịu vậy, biết bò đi đâu?
Has meaning
Gió đưa buồng chuối sau hè Đã lăm le cô chị, lại muốn dò dè cô em
Has meaning
Lụa làng Trúc vừa thanh vừa bóng May áo chàng cùng sóng áo em Chữ tình cùng với chữ duyên Xin đừng thay áo mà quên lời nguyền
Has meaning
Dạ chàng như đám quân quan Dạ em như cánh hoa tàn dầm sương Biết rằng chàng có lòng thương Hay là cợt giễu ngoài đường mà thôi?
Has meaning
Vái trời cho đặng vuông tròn Trăm năm giữ vẹn lòng son cùng chàng
Has meaning
Lên bờ lại muốn xuống thuyền, Vì chưng chữ ngãi chữ duyên buộc rồi. Buộc vào thành cánh hoa hồi, Khi lên khi xuống hai người cùng khiêng. Buộc vào tấm lưới sợi giềng, Khi khơi khi lộng chỉ riêng ta mình. Chữ duyên chữ ngãi chữ tình, Cả ba chữ ấy là in hình trong gương. Lắng nghe nàng nói cũng tình, Trông nàng bẻ lái càng xinh con thuyền. Mong cho hương lửa bén duyên, Để anh phỉ nguyện ước nguyền bấy lâu
Has meaning
Ví dầu trời đất phân chia Đôi ta như khóa với chìa đừng rơi
Has meaning
Trồng tre chẳng dám ăn măng Để cho tre lớn, kết bè đưa dâu Đưa dâu thì đưa bằng ghe Đừng đưa bằng bè, ướt áo cô dâu
Has meaning
Mối chỉ đỏ xe vòng duyên nợ Trách cho người buộc mở vì ai Nỉ non đêm vắn tình dài Ngoài hiên thỏ đã non Đoài ngậm gương
Has meaning
Chàng ràng vì áo cụt nu Vì dây lưng đỏ, vì dù cánh dơi
Has meaning
Cha mẹ đành, em phải đành theo Tàu đồng đang chạy, thả neo khó ngừng
Has meaning
Chém cha đứa đốn cây bòng Không cho bướm đậu, buộc lòng bướm bay
Has meaning
Chàng ơi đừng có ưu phiền Tóc xe trăm ngọn ta nguyền gỡ xong Rối tơ ta gỡ còn xong Rối đầu có lược, rối lòng ta phân
Has meaning
Chàng ràng chi lắm bướm ơi Đậu đâu bướm đậu một nơi cho rồi
Has meaning
Cầu Ô Thước trăm năm giữ vẹn Sông Ngân Hà mãi mãi không phai Sợ em ham chốn tiền tài Dứt đường nhân nghĩa lâu dài bỏ anh
Has meaning