Vietnamese Folk Verses
Vietnamese Folk Verses
A collection of Vietnamese ca dao & proverbs — with the meaning of each verse.
11945 verses · page 150/498
Ai ơi được ngọc đừng cười Ta đây được ngọc rụng rời tay chân
Has meaning
Ai ơi hãy ở cho lành Kiếp này không gặp, để dành kiếp sau
Has meaning
Tiếc quả hồng ngâm mà đem cho chuột vọc Tiếc con người ngọc mà đem cho ngâu vày Tiếc của Nam ta xây dựng, để cho Tây tung hoành
Has meaning
Bước ra cho khỏi sân lầu Không ham phú quý không cầu giàu sang
Has meaning
Cái kiến mày ở trong nhà Tao đóng cửa lại mày ra đằng nào? Con cá mày ở dưới ao Tao tát nước vào mày sống được chăng?
Has meaning
Con chim phượng hoàng bay ngang hòn núi Bạc Con cá ngư ông móng nước ngoài khơi Gặp nhau đây xin phân tỏ đôi lời Kẻo mai kia con cá về sông vịnh Con chim nọ đổi dời về non xanh
Has meaning
Mẹ sinh cây có một cành Lấy ai khuya sớm gia đình mai sau
Has meaning
Ai làm bát bể cơm rơi Dĩa nghiêng cá đổ rã rời đời ta
Has meaning
Buồn ơi, cha chả buồn ơi Không ai chuyện vãn cho tôi đỡ buồn.
Has meaning
Giếng Ngọc Hà vừa trong vừa mát Vườn Ngọc Hà thơm ngát gần xa Hỡi người xách nước tưới hoa Có cho ai được vào ra chốn này?
Has meaning
Tháng giêng là nắng hơi hơi Tháng hai là nắng giữa trời nắng ra Thứ nhất là nắng tháng ba Tháng tư có nắng nhưng mà nắng non Tháng năm nắng đẹp nắng giòn Tháng sáu có nắng bóng tròn về trưa Tháng bảy là nắng vừa vừa Tháng tám là nắng tờ ơ thế này Tháng chín nắng gắt nắng gay Tháng mười có nắng, nhưng ngày nắng không Tháng một là nắng mùa đông Tháng chạp có nắng nhưng không có gì
Has meaning
Cậy tài, cậy khéo, khoe khôn Đừng cậy có của đa ngôn quá lời Của thời mặc của ai ơi Đừng cậy có của coi người mà khinh
Has meaning
Bấy lâu em còn nghi còn ngại Bữa nay em kêu đại bằng mình Phụ mẫu hay đặng, không lẽ giết mình với em?
Has meaning
Chàng về mua chỉ mua kim Thêu loan thêu phượng mới nên khăn này Thêu cho đủ lối mới hay Anh thời thêu phượng em nay thêu rồng Bốn bên thêu bốn cành hồng Ở giữa con rồng phượng lộn xung quanh Ở giữa chỉ đỏ rành rành Bốn góc em thêu bốn cành quế chi Đố anh thêu được hoa quì Đố anh thêu được bốn vì cành hoa Anh về mượn thợ thêu đi Anh mà thêu được em thì mất khăn
Has meaning
Trăm năm dạ ở đinh ninh Nào ai phụ ngãi quên tình mặc ai
Has meaning
Hỡi ai duyên cớ ai bày? Duyên trăm năm lại bỏ, nghĩa một ngày lại theo
Has meaning
Tháng giêng là gió hây hây Tháng hai gió mát, trăng bay vào đền Tháng ba gió đưa nước lên Tháng tư gió đánh cho mềm ngọn cây Tháng năm là tiết gió tây Tháng sáu gió mát cấy cày tính sao Tháng bảy gió lọt song đào Tháng tám là tháng tạt vào hôm mai Tháng chín là tháng gió ngoài Tháng mười là tháng heo may rải đồng Tháng một gió về mùa đông Tháng chạp gió lạnh gió lùng, chàng ơi Mười hai tháng gió tôi đã họa rồi Mưa đâu, chàng họa một bài cùng nghe!
Has meaning
Trăm năm cúc rụi còn mai Rùa đeo chân hạc, thiếp chớ nghe ai bỏ chàng
Has meaning
Cây khô để lại lá vàng Người đi để lại muôn ngàn nhớ thương
Has meaning
Trăm năm đã chắc vào đâu Mà đem dài vắn nông sâu cắm sào?
Has meaning
Ban ngày dang nắng, tối lại dầm sương Công lao tôi khổ mình thương không mình
Has meaning
Tháng một là tiết mưa xuân Tháng hai mưa bụi dần dần mưa ra Đàn bà như hạt mưa sa Mưa đâu mát đấy biết là đâu hơn Tháng năm tháng sáu trong trận mưa cơn Bước sang tháng bảy rợp rờn mưa ngâu Thương thay cho vợ chồng Ngâu Cả năm chỉ mới gặp nhau một lần Nữa là ta ở dưới trần Cũng mong kết nghĩa Tấn Tần cùng nhau Nữa là mưa nắng dãi dầu Cũng mong cho vợ chồng Ngâu hợp hòa Gặp nhau từ ngày mồng ba Đến ngày mồng bảy là ra bơ phờ Đã đành kết tóc xe tơ Đã buồn cả ruột lại dơ cả đời Mưa thì em đã họa rồi Nắng đâu anh họa một bài cùng nghe
Has meaning
Bắc cầu cho kiến bò qua Cho con chú xã qua nhà tôi chơi
Has meaning
Buồn riêng rồi lại tủi thầm Một duyên, hai nợ, ba lầm lấy anh
Has meaning