Vietnamese Folk Verses
Vietnamese Folk Verses
A collection of Vietnamese ca dao & proverbs — with the meaning of each verse.
11945 verses · page 104/498
Sống ở trên đời ăn miếng dồi chó Chết xuống âm phủ biết có hay không?
Has meaning
Thương thay thân phận trái dừa Non thời khoét mắt, già cưa lấy đầu
Has meaning
Chính chuyên cũng một anh chồng Lẳng lơ cũng chẳng nằm không đêm nào Một đêm tám chín anh vào Lòng tôi nhân đức chẳng để anh nào ra không
Has meaning
Chén cơm đôi đũa nằm ngang Thiếp thấy mặt chàng, đói cũng như no
Has meaning
Cây thầu dầu lá cũng thầu dầu Anh về từ đó, em sầu từ đây Em sầu, anh có vui chi Em gạt nước mắt cũng có khi anh khóc thầm
Has meaning
Chẳng tham lắm ruộng nhiều trâu Tham vì ông lão tốt râu mà hiền Chẳng tham ruộng cả ao liền Tham vì cái bút cái nghiên anh đồ
Has meaning
Biết nhau từ thuở trọc đầu Bây giờ có tóc gặp nhau chẳng chào
Has meaning
Canh suông khéo nấu thì ngon Mẹ già khéo nói thì con đắt chồng
Has meaning
Cây tre lóng cụt lóng dài Anh lấy em vì bởi ông mai lắm lời
Has meaning
Con cá dưới sông con lội con nhào Đường chông gai anh đừng có phụ Chỗ sang giàu em không ham
Has meaning
Canh khuya em thức dậy, em lau nĩa rửa dĩa, dọn bàn, Tay em san rượu chát, miệng em hát một đôi câu. Trên lầu kia tiếng chuông đánh rộ, Dưới nhà việc trống đổ tàn canh. Em đây lịch sự chi đó mà đi đâu năm bảy người giành? Giả như con cá kia ở chợ, dạ ai đành nấy mua
Has meaning
Cha mẹ em đoán số cho chàng Đoán cung thê thiếp rõ ràng tên em
Has meaning
Cao cao, cao tít mù xanh Tuy cao mù tít vẫn quanh quẩn gần Dữ lành cân nhắc đồng cân Mà cơ hạnh phúc chuyển vần chẳng sai Hiện tiền quá khứ tương lai Như vòng vòng dính như quay quay tròn
Has meaning
Cầm trâu, cầm áo, cầm khăn Cầm dây lưng lụa, xin đừng cầm em
Has meaning
Chẳng giậm thì thuyền chẳng đi Giậm ra nát ván thì thuyền long đanh Đôi ta lên thác xuống ghềnh Em ra đứng mũi để anh chịu sào Sông Bờ sông Mã sông Thao Ba ngọn sông ấy đổ vào sông Gâm
Has meaning
Canh một nổi ngọn đèn loan, Chờ người thục nữ thở than đôi lời. Canh hai nguyệt đổi sao dời, Tính sao thì tính trọn đời thủy chung. Canh ba cờ phất, trống rung, Mặc cho ai thẳng, ai chùn mặc ai. Canh tư hạc đậu cành mai, Sương sa lác đác, biết ai mà tầm. Canh năm không ngủ, không nằm, Trông cho mau sáng đặng tầm người thương
Has meaning
Cắn ngón tay trỏ lấy máu đề thơ Gởi thơ lên kêu anh kiếm vợ đừng chờ Em đây còn nhỏ tuổi để cha mẹ nhờ đôi năm
Has meaning
Bà hai có đống rơm to Có cô con gái chẳng cho lấy chồng Ai ai đến hỏi cũng không Cậu ấm đến hỏi, bằng lòng gả ngay
Has meaning
Ai mà ở lỗi lời nguyền Xuống ghe ghe úp, xuống thuyền thuyền trôi
Has meaning
Anh đã có vợ con riêng Như bông hoa riềng nửa đắng nửa cay Anh đã có vợ cầm tay Anh còn tơ tưởng chốn này làm chi
Has meaning
Ai xui đất thấp trời cao Để cho tôi đứng tôi gào hết hơi Hết hơi chẳng thấy trả lời Thấy trong trời đất có tôi đứng gào
Has meaning
Anh đừng chê thiếp xấu xa Bởi chưng bác mẹ sinh ra thế này
Has meaning
Gái một con trông mòn con mắt Gái hai con con mắt liếc ngang Ba con cổ ngẳng răng vàng Bốn con quần áo đi ngang khét mù Năm con tóc rối tổ cu Sáu con yếm tụt, váy dù vặn ngang
Has meaning
Vô duyên lấy phải chồng già Kêu chồng thì lỡ kêu cha bạn cười
Has meaning